Trao quyền cho người dân cùng quản lý, bảo vệ thúc đẩy mở rộng khu vực bảo tồn, từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học.
Chuyển đổi tư duy “khoanh vùng bảo vệ” sang “kết nối cùng gìn giữ”
Những năm qua, các sáng kiến bảo vệ rừng, bảo vệ khu sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển… tại nhiều địa phương đang là những mô hình mẫu mực, lan tỏa tinh thần trách nhiệm bảo vệ môi trường nói chung đến cộng đồng dân cư trên khắp cả nước. Những câu chuyện này thực chất không phải mới chỉ xuất hiện ở thời điểm hiện tại. Nó đã xuất hiện từ rất lâu trong các hương ước làng xã, các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán… của nhiều cộng đồng, nhiều dân tộc.

Tổ cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng Tam Mỹ (Tp Đà Nẵng). Ảnh: Tùng Đinh.
Có thể điểm tên: đó là những lễ hội cúng thần rừng, thần nước; lễ hội cầu ngư; lễ hội cúng mừng cơm mới… Nó là những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông xây dựng và trao truyền qua biết bao thế hệ. Nó giáo dục con người hòa nhập, gần gũi với thiên nhiên, biết bảo vệ môi trường tự nhiên, biết tri ân những giá trị của tự nhiên đã giúp cuộc sống của con người bình yên, no đủ, tốt đẹp hơn. Vì thế, còn hơn cả là một nét đẹp văn hóa, đó là sự thức tỉnh về nhận thức của con người đối với không gian mình sinh sống.
Tiếp cận, kế thừa những tri thức cộng đồng, tri thức bản địa trong việc gìn giữ, bảo vệ, phát triển tự nhiên, môi trường sinh thái…, những việc làm, hành động cụ thể để bảo vệ tự nhiên đã được nâng lên một tầm cao mới, trở thành một giải pháp hiệu quả, chiến lược trong bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo định nghĩa quốc tế: OECM – khu vực có các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác – là công cụ chiến lược mở rộng không gian bảo tồn đa dạng sinh học ra ngoài các khu bảo tồn truyền thống. Mô hình này trao quyền cho cộng đồng, tổ chức, cá nhân cùng quản lý tài nguyên, kết hợp giữa bảo vệ hệ sinh thái và phát triển sinh kế bền vững. Nó là giải pháp để huy động tổng thể các nguồn lực để cùng bảo vệ, bảo tồn, phát triển môi trường tự nhiên một cách đa dạng, linh hoạt, có trách nhiệm và có hiệu quả.

Tổ cộng đồng đồng quán lý Rạn bà Đậu, xã Tam Xuân, Tp.Đà Nẵng. Ảnh: Tùng Đinh.
Tại Việt Nam, phát triển OECM đã được đưa vào Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030. Mô hình này đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo ra các “vành đai xanh” để mở rộng không gian bảo tồn, kết nối các khu bảo tồn phân mảnh thành hành lang sinh thái cho động, thực vật di cư và sinh trưởng mà không cần chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang rừng đặc dụng.
Những giá trị của giải pháp này mang lại còn hơn cả những kỳ vọng: hệ sinh thái được bảo tồn, phục hồi đã tạo sinh kế bền vững cho người dân, cho phép người dân được hưởng lợi ích từ chính hệ sinh thái đó. Những mô hình phát triển kinh tế cộng đồng; mô hình trồng cây dược liệu, cây đặc sản dưới tán rừng… Người bảo vệ chính là người được thụ hưởng những thành quả, giá trị mà mình thụ hưởng. Từ đó, vai trò của toàn xã hội được huy động, tư duy “khoanh vùng để bảo vệ” được thay đổi sang hướng tích cực hơn: “kết nối để cùng gìn giữ”.
Những mô hình OECM đang hoạt động hiệu quả tại Việt Nam như: Tổ cộng đồng tuần tra, bảo vệ rừng xã Tam Mỹ, Tổ cộng đồng đồng quản lý 64 ha mặt biển xã Tam Xuân (TP. Đà Nẵng); Tổ tuần tra bảo vệ rừng thôn Trăng Tà Puồng (xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị); Tổ cộng đồng tuần tra bảo vệ rừng Tổ dân phố Tân Mỹ (phường Phong Điền, TP.Huế)… Đó là những minh chứng cụ thể nhất, điển hình nhất của giải pháp này.
Cuộc sống của người dân được cải thiện. Môi trường, hệ sinh thái gia tăng chất lượng mỗi ngày. Hiệu quả bền vững của giải pháp này đã được chính quyền cơ sở thừa nhận. Cộng đồng trở thành “cánh tay nối dài”, giúp chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch, chiến lược bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học… của địa phương.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển các mô hình OECMs
Đánh giá về mô hình OECM, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Đà Nẵng Vũ Thị Bích Hậu chia sẻ: “Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, bảo tồn đa dạng sinh học không thể chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước hay lực lượng chuyên môn. Bảo tồn chỉ thực sự bền vững khi cộng đồng địa phương được nhìn nhận là chủ thể đồng hành, là những người hiểu địa bàn, gắn bó với tài nguyên và có mặt thường xuyên nhất tại hiện trường”.

Tổ cộng đồng giữu rừng Trăng Tà Puồng (xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị). Ảnh: Tùng Đinh.
Đối với Đà Nẵng, theo bà Hậu, sau hợp nhất, không gian phát triển của thành phố được mở rộng. Đà Nẵng đã có một bức tranh sinh thái rất đa dạng: có rừng, biển, sông, suối, vùng đất ngập nước, rạn ven bờ, vùng miền núi, vùng nông nghiệp và nhiều khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao. Chính trong bức tranh đó, vai trò của cộng đồng địa phương càng trở nên quan trọng.
“Thực tiễn cho thấy, tại nhiều nơi, người dân không chỉ tham gia với tư cách hỗ trợ, mà đã trực tiếp tham gia bảo vệ loài, bảo vệ sinh cảnh, tuần tra, giám sát, phát hiện sớm nguy cơ và phối hợp với chính quyền, kiểm lâm, kiểm ngư, cơ quan chuyên môn trong xử lý các vấn đề phát sinh. Những mô hình như cộng đồng tham gia bảo vệ voọc chà vá chân xám ở Tam Mỹ, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại rạn Bà Đậu – Hà Lộc, hay các nỗ lực bảo vệ tài nguyên ở khu vực miền núi cho thấy bảo tồn dựa vào cộng đồng không còn là một khẩu hiệu, mà đang là một thực tiễn có giá trị.
Điều đáng quý nhất là người dân đang dần chuyển từ vị trí “người được vận động” sang vị trí “người cùng quản lý, cùng gìn giữ và cùng hưởng lợi”. Đây là nền tảng rất quan trọng để Đà Nẵng đóng góp thiết thực vào các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Đa dạng sinh học và Khung Đa dạng sinh học toàn cầu, đặc biệt là mục tiêu bảo tồn hiệu quả, bao trùm và có sự tham gia thực chất của cộng đồng” – bà Hậu đánh giá.


Cộng đồng giữ rừng Tân Mỹ (TP. Huế). Ảnh: Tùng Đinh.
Theo ông Lê Ngọc Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thành phố Huế, địa phương đang có mô hình Tổ cộng đồng bảo vệ 560 ha rừng Tân Mỹ (phường Phong Điền), đánh giá: Tổ cộng đồng bảo vệ rừng Tân Mỹ là một trong những mô hình tiêu biểu về quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng. Điểm nổi bật của mô hình là người dân thực sự xem rừng là tài sản chung, là nguồn sinh kế lâu dài nên chủ động tham gia bảo vệ rừng với tinh thần trách nhiệm cao.
Theo ông Tuấn, thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng giai đoạn 2010 – 2014 đến nay, Thành phố Huế đã giao hơn 31.626ha rừng cho 88 cộng đồng, 225 nhóm hộ, 157 hộ gia đình và 2 đồn biên phòng quản lý. Điều này đã tạo nền tảng quan trọng để phát huy vai trò của người dân trong bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển lâm nghiệp bền vững.
“Sự phối hợp của tổ cộng đồng với chính quyền và lực lượng kiểm lâm đã góp phần bảo vệ hiệu quả diện tích rừng hiện có, bảo vệ nguồn nước, cảnh quan sinh thái và đa dạng sinh học, đồng thời hỗ trợ địa phương thực hiện các mục tiêu về bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Có thể khẳng định, Tổ cộng đồng là “cánh tay nối dài” của chính quyền và lực lượng kiểm lâm cơ sở, là hạt nhân quan trọng trong việc huy động toàn dân tham gia bảo vệ rừng và gìn giữ các giá trị đa dạng sinh học cho thế hệ mai sau” – ông Tuấn đánh giá.

Đa dạng sinh học, hệ sinh thái được bảo tồn, giữ gìn nhờ cộng đồng chung tay bảo vệ. Ảnh: Tùng Đinh.
Việt Nam còn rất nhiều các khu vực khác có thể áp dụng các biện pháp bảo tồn thích hợp
“Ngoài việc thiết lập hệ thống các khu bảo tồn biển, khu rừng ngập mặn là rừng đặc dụng, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Việt Nam còn rất nhiều các khu vực khác có thể áp dụng các biện pháp bảo tồn thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, ổn định đời sống cho người dân với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học”.
Ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
WWF-Việt Nam mong muốn được tiếp tục đồng hành
“OECM là một cách tiếp cận quan trọng để mở rộng hiệu quả bảo tồn ở quy mô cảnh quan, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia và quốc tế về đa dạng sinh học. Với nền tảng chính sách đã được hình thành, sự quan tâm của các cơ quan quản lý, các địa phương và sự đồng hành của nhiều đối tác, chúng tôi tin rằng đây là thời điểm rất thuận lợi để Việt Nam từng bước đưa OECM vào thực tiễn. WWF-Việt Nam mong muốn được tiếp tục đồng hành cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương và các đối tác để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm quốc tế, hỗ trợ quá trình học hỏi và hoàn thiện các cách tiếp cận phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam”.
Ông Văn Ngọc Thịnh, Trưởng Đại diện WWF-Việt Nam